Tìm hiểu quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng điện tử

Trong thời đại 4.0 và sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin như hiện nay, cùng với nền kinh tế thị trường, hiện đại, tiến bộ khiến hợp đồng điện tử đang dần trở thành một xu hướng, một phương thức được nhiều doanh nghiệp quan tâm lựa chọn thay thế cho các loại hợp đồng truyền thống bởi khả năng tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch, dễ dàng trao đổi dữ liệu và chia sẻ thông tin. Vậy quy định của Pháp luật Việt Nam về hợp đồng điện tử như thế nào và nó khác gì so với hợp đồng truyền thống?

unnamed

Nguồn ảnh: http://www.lapphap.vn/

  • Về khái niệm:

Theo Điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Lại căn cứ theo Điều 33 Luật Giao dịch điện tử 2005 có quy định như sau:

Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này.”

Thông điệp dữ liệu theo Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005 là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.

Có thể thấy, hợp đồng điện tử cũng chính là một loại hợp đồng, vẫn xác lập sự thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự theo thỏa thuận của các bên. Chỉ khác là thay vì được hình thành trên giấy hay các phương tiện ghi chép khác, hợp đồng điện tử được thiết lập dưới dạng thông điệp điện tử.

  • Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử:

Theo Điều 35 Luật giao dịch điện tử 2005:

– Các bên tham gia có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng.

– Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật này và pháp luật về hợp đồng.

– Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó.

Có thể thấy, ngoài việc thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử, yêu cầu về kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện đảm bảo tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử,… thì việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử vẫn phải tuân theo quy định của pháp luật về hợp đồng, như khi giao kết hợp đồng truyền thống.

  • Về giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử:

Theo quy định tại Điều 34, Luật giao dịch điện tử 2005:

“Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu”.

Mặc dù được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu nhưng hợp đồng điện tử vẫn có đầy đủ giá trị pháp lý không khác gì hợp đồng giấy nếu nó được giao kết theo đúng trình tự pháp luật và tôn trọng ý chí của mỗi bên tham gia hợp đồng.

Tuy nhiên quy định trên chỉ công nhận chứ không giúp chúng ta xem xét tính hợp pháp của một hợp đồng điện tử. Để xem xét một hợp đồng điện tử có hợp pháp hay không ta cần dựa vào những điều kiện sau:

– Hợp đồng đầy đủ chữ ký số của các Bên trong hợp đồng

Cũng như cách xem xét hợp đồng giấy, hợp đồng truyền thống điều đầu tiên cần lưu ý là hợp đồng điện tử cần phải đầy đủ chữ ký số của các bên trong hợp đồng.

Theo Điều 21 Luật Giao dịch điện tử 2005: “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký.”

Điều kiện, nguyên tắc sử dụng, giá trị pháp lý, các nghĩa vụ và việc chứng thực chữ ký điện tử được quy định rất rõ ràng từ Điều 22 đến Điều 31 Luật này.

Trường hợp hợp đồng điện tử ký giữa tổ chức với tổ chức: cần phải có đầy đủ chữ ký số của các bên trong hợp đồng.

Trường hợp Hợp đồng điện tử ký giữa tổ chức với cá nhân: cần phải có ít nhất 01 chữ ký số của tổ chức và chữ ký số/chữ ký ảnh của cá nhân (tùy theo thỏa thuận của các bên tham gia).

– Hợp đồng toàn vẹn, không bị chỉnh sửa kể từ thời điểm ký số

Điều kiện thứ hai cần kiểm tra ngay là tính toàn vẹn về nội dung hợp đồng, đảm bảo hợp đồng Hợp đồng toàn vẹn, không bị chỉnh sửa kể từ thời điểm các bên hoàn tất ký số.

Theo Điều 13 Luật Giao dịch điện tử 2005:

“Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:

1. Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh.

Nội dung của thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;

2. Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.”

– Đại diện ký số là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện được ủy quyền hợp pháp:

Do việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng. Chủ thể ký số là yếu tố chắc chắn cần xem xét trong xác thực hợp đồng điện tử được ký đúng pháp nhân. Tất cả các bên trong hợp đồng phải cùng ký điện tử trên hợp đồng đó.

Một điểm cần lưu ý là trong ký số thì có hai chữ ký số. Chữ ký số của người ký hợp đồng tương ứng với chữ ký người đại diện pháp luật trong hợp đồng giấy; và chữ ký số của doanh nghiệp/tổ chức thay thế con dấu trong hợp đồng giấy. Tùy theo thỏa thuận của các bên ký, có thể dùng chữ ký số doanh nghiệp, nhưng tốt nhất cần có đủ hai chữ ký số này trong hợp đồng của các bên ký.

– Chứng thư số được cấp bởi tổ chức được cấp phép và chứng thư số còn hiệu lực tại thời điểm ký số:

Theo Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005: Chứng thư điện tử là thông điệp dữ liệu do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử phát hành nhằm xác nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân được chứng thực là người ký chữ ký điện tử.”

Chứng thư số ký trên tài liệu/hợp đồng phải được cấp bởi tổ chức được cấp phép và chứng thư số còn hiệu lực tại thời điểm ký số. Để kiểm tra tính xác thực chữ ký số, bạn chỉ cần thực hiện theo 1 trong 2 cách đơn giản:

Kiểm tra bằng “Signature Panel”;

Kiểm tra bằng cách click trực tiếp vào chữ ký số.

  • Nơi lưu trữ hợp đồng điện tử:

Hiện pháp luật không quy định về nơi lưu trữ hợp đồng điện tử mà việc này được dựa theo thỏa thuận của các bên khi giao kết hợp đồng.

Tuy nhiên Điều 17 Luật Giao dịch điện tử có quy định về “Thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu” khi giao kết, thực hiện Hợp đồng điện tử như sau:

Trong trường hợp các bên tham gia giao dịch không có thoả thuận khác thì thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu được quy định như sau:

1. Thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo;

2. Địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cá nhân. Trường hợp người khởi tạo có nhiều trụ sở thì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch.”

Trên đây là một số phân tích để làm rõ tính pháp lý của Hợp đồng điện tử so với Hợp đồng giấy thông thường. Với giá trí pháp lý là như nhau, nhưng những ưu điểm như tiện lợi, nhanh chóng, mình bạch, dễ quản lý, tiết kiệm thời gian, chi phí,… của Hợp đồng điện tử, cũng như tính hợp thời đại, ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức lựa chọn hình thức giao kết Hợp đồng điện tử cho công việc của mình. Mặc dù hiện nay ở nước ta, Hợp đồng điện tử vẫn còn những nhược điểm nhất định như khó xác định địa điểm giao kết, khó chứng minh chữ ký gốc, nguy cơ lừa đảo, rò rỉ dữ liệu,… tuy nhiên với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay thì những nhược điểm này sẽ sớm được khắc phục trong tương lai không xa và Hợp đồng điện tử sẽ trở thành giải pháp ưu tiên hàng đầu trong việc thực hiện các giao dịch điện tử an toàn, nhanh chóng, tiết kiệm, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.

 

logo

Link & Partners

Là đơn vị tư vấn luật hàng đầu tại Việt Nam.

 Phòng 2403 tòa A3, chung cư Ecolife Capitol, số 58 Tố Hữu, Quận Nam Từ Liêm, Thàn phố Hà Nội, Việt Nam
0243.997.2222 - 0949.592.295
[email protected]

Fanpage

Hotline: 0243-997-2222

Scroll to Top