Rủi ro rất lớn từ việc mua bán Nhà đất bằng cách lập Vi bằng

Gần đây, nhiều địa phương xuất hiện tình trạng “cò đất” hướng dẫn người mua lập vi bằng mua bán đất để thay thế cho hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, hình thức mua bán này ẩn chứa rất nhiều rủi ro vì rõ ràng, đấy là hành vi không đúng pháp luật.

Trước tiên, cần tìm hiểu Vi bằng là gì?

Theo khoản 3 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì:

“Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này”

Hình thức và nội dung chủ yếu của Vi bằng được lập theo quy định trong Điều 40 Nghị định này.

Với bản chất là để ghi lại những sự kiện, hành vi có thật mà Thừa phát lại chứng kiến khi được cá nhân, tổ chức yêu cầu, rõ ràng lập Vi bằng rất khác so với hoạt động Công chứng.

Theo Điều 2, Luật Công chứng 2014:

Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.

Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này.

Do có sự khác nhau rõ ràng giữa một bên là bản ghi lại những sự việc có thật và một bên để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của một giao dịch, có thể dễ dàng thấy được giá trị pháp lý của chúng là khác nhau.

Tiếp theo cần khẳng định, Vi bằng không thay thế hợp đồng chuyển nhượng có công chứng.

Theo khoản 2 Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP:

“Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác.”

Do đó, việc khẳng định Vi bằng có thể thay được văn bản công chứng là sai.

Vi bằng là gì? Giá trị pháp lý của vi bằng - Vi bằng có giá trị pháp lý  không?

Tinh pháp lý của Vi bằng (ảnh minh họa)

Vậy việc lập vi bằng mua bán đất để thay thế cho hợp đồng chuyển nhượng cũng là điều không thể vì:

Căn cứ theo khoản 4 và khoản 5 Điều 37 Nghị định 08/2020/NĐ-CP:

Các trường hợp không được lập vi bằng:

“4. Xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao đúng với bản chính.

5. Ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai, tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.”

Do đó, Vi bằng không thể được lập nhằm thay thế các công việc thuộc phạm vi hoạt động công chứng cũng như không thể lập Vi bằng để ghi nhận hoạt động mua bán nhà đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, Pháp luật đất đai quy định hợp đồng chuyển nhượng nhà đất phải công chứng hoặc chứng thực và hồ sơ sang tên phải có hợp đồng chuyển nhượng được công chứng hoặc chứng thực, vì vậy, các giao dịch đất đai sử dụng Vi bằng sẽ không được công nhận.

Chúng ta chỉ có thể lập vi bằng đối với những sự kiện về nhà đất như: Xác nhận tình trạng nhà, đất; Giao nhận tiền khi chuyển nhượng nhà đất hợp pháp, khi hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định; Ghi nhận việc đặt cọc,…

Tóm lại, Với những quy định tại Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Luật Đất đai và Luật công chứng thì Văn phòng thừa phát không được lập vi bằng mua bán đất, vi bằng không có giá trị thay thế hợp đồng chuyển nhượng được công chứng hoặc chứng thực. Khi lập vi bằng, Thừa phát lại phải giải thích rõ cho người yêu cầu về giá trị pháp lý của vi bằng.

logo

Link & Partners

Là đơn vị tư vấn luật hàng đầu tại Việt Nam.

 Phòng 2403 tòa A3, chung cư Ecolife Capitol, số 58 Tố Hữu, Quận Nam Từ Liêm, Thàn phố Hà Nội, Việt Nam
0243.997.2222 - 0949.592.295
[email protected]

Fanpage

Hotline: 0243-997-2222

Scroll to Top