Lừa đảo qua điện thoại

Thời gian gần đây, Tổng đài Tư vấn, hỗ trợ người tiêu dùng 1800.6838 và Hệ thống tiếp nhận, giải quyết yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của người tiêu dùng của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Cục CT&BVNTD) đã tiếp nhận hàng chục cuộc gọi, đơn thư phản ánh về việc bị một số đối tượng mạo danh là nhân viên của các nhà mạng Vinaphone, Mobifone gọi điện, nhắn tin hướng dẫn cú pháp để thực hiện nâng cấp sim 3G thành sim 4G nhằm lừa đảo, chiếm đoạt quyền kiểm soát sim điện thoại, đánh cắp các thông tin thẻ tín dụng, lấy mã OTP và thanh toán hàng chục triệu đồng cho các đơn hàng online bằng thẻ tín dụng của người tiêu dùng.

Điển hình là vụ việc của chị N.T.H.M ở TP.HCM, ngày 18/1/2021, chị M được một người gọi điện, tự xưng là nhân viên của Vinaphone và thông báo chị đang dùng gói 3G, nên chuyển sang 4G với những lý lẽ hết sức thuyết phục. Thấy tiện, chị M đồng ý. Ngay sau đó người này hướng dẫn chị nhập dãy ký tự *938*…# trên điện thoại của chị và dặn tắt máy, 30 phút sau khởi động lại. Sau khi khởi động lại máy chị M nhận thấy Sim của chị bị vô hiệu hóa, không có sóng. Hai ngày sau mới khôi phục sim, chị M nhận được tin nhắn từ phái công ty cho vay tiêu dùng thông báo dư nợ 49.231.000 đồng. Mặc dù trước đó chưa từng kích hoạt tài khoản tín dụng của công ty này, nhưng trùng với thời điểm sim của chị bị vô hiệu hóa thì thẻ tín dụng vay tiêu dùng của chị M đã được kích hoạt, lấy mã OTP gửi đến số điện thoại mà kẻ gian đã lấy cắp của chị để sử dụng thanh toán cho các giao dịch phát sinh tại FPT Shop Quận 10 TP.HCM.

download (1)

Đây là một thủ đoạn phạm tội mới mà Việt Nam chúng ta rất ít kinh nghiệm để xử lý.

Những tin nhắn, cuộc gọi lừa đảo thường có nội dung “Thuê bao của quý khách sắp bị tạm khóa 2 chiều, do chưa nâng cấp lên sim 4G, vui lòng làm theo hướng dẫn của nhân viên để được hỗ trợ nâng cấp miễn phí và tiếp tục sử dụng dịch vụ. Xin cảm ơn!”. Lợi dụng tình hình dịch covid-19, các đối tượng sẽ nói với khách hàng rằng do tình hình dịch bệnh nên không trực tiếp gặp nhau và hướng dẫn khách hàng các thao tác cần thiết.  Sau khi thực hiện thao tác được hướng dẫn, lập tức sim sẽ bị vô hiệu hóa, trên thực tế, thẻ sim đã bị chiếm quyền sử dụng. Sau khi đã chiếm được quyền sử dụng, các đối tượng sẽ sử dụng các thông tin từ sim, nhất là các mã OTP được gửi về khi tiến hành các giao dịch online, các giao dịch ngân hàng, các dịch vụ vay tín dụng,… để thực hiện thủ đoạn chiếm đoạt tài sản. Do đây là những giao dịch thực sự diễn ra được tính là hợp kháp nên khả năng thu hồi tiền là rất khó.

Vậy, trong chỉ khoảng 30 phút, các đối tượng đã thành công trong việc sử dụng sim của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản.

Chiêu thức lừa đảo tinh vi như vậy không chỉ xảy ra ở TP.HCM, mà người tiêu dùng ở các tỉnh, thành phố khác trong cả nước như Hải Phòng, Hà Nội, Đồng Tháp… cũng phản ánh thực trạng tương tự.

  • Chế tài xử phạt:

Hành vi lừa đảo bằng cách chiếm quyền sử dụng sim nói trên có dấu hiệu của tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, một số trường hợp là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với hình thức xử phạt như sau:

Xử phạt vi phạm hành chính: Trong trường hợp sai phạm chưa đủ nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác sẽ bị phạt hành chính từ 1.000.000 đến 5.000.000 đồng theo chế tài quy định tại Điều 15 nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Về tội Sử dụng mạng máy tình, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017):

“1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của Cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
  2. b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
  3. c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
  4. d) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;

đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
  2. a) Có tổ chức;
  3. b) Phạm tội 02 lần trở lên;
  4. c) Có tính chất chuyên nghiệp;
  5. d) Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

  1. e) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
  2. g) Tái phạm nguy hiểm.
  3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
  4. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  5. b) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  6. c) Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.
  7. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
  8. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
  9. b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;
  10. c) Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên.
  11. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017):

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
  2. b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  3. c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  4. d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.
  5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
  6. a) Có tổ chức;
  7. b) Có tính chất chuyên nghiệp;
  8. c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
  9. d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

  1. e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
  3. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  4. c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
  5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
  6. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
  7. c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
  8. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

  • Khuyến cáo người tiêu dùng:

Do đây là một thủ đoạn phạm tội mới hết sức tinh vi, gây nhiều khó khăn cho công tác điều tra. Mắc dù các bên liên quan đang nỗ lực phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin, dữ liệu cho các cơ quan chức năng với mục tiêu triệt phá các vụ lừa đảo nhưng trên thực tế chưa thu lại hiệu quả. Trong bối cảnh ấy, khách hàng khi sử dụng các dịch vụ mạng di động cần đặc biệt nâng cao tinh thần cảnh giác và thực hiện các biện pháp phòng tránh, ngăn ngừa sau:

– Do các đối tượng có thể sử dụng kỹ thuật để giả mạo tên nhà mạng, cũng như sử dụng tên miền gần giống với các web site chính thống nên khách hàng rất hay có sự nhầm lẫn. Nên khi nhận được tin nhắn hay thư điện tử có chứa đường dẫn lạ, người tiêu dùng không nên vội vàng truy cập hoặc nhấp vào đường dẫn đó mà cần kiểm tra kĩ thông tin.

– Tăng cường bảo mật cho SIM điện thoại bằng cách đăng kí sim chính chủ cũng như có thể sử dụng dịch vụ cài mã Pin cho SIM.

– Thay vì chỉ sử dụng mã OTP trên điện thoại, người tiêu dùng có thể sử dụng thêm các dạng mã OTP khác trên các ứng dụng xác thực ví dụ như địa chỉ email cho các giao dịch tài chính, tín dụng quan trọng.

– Ngay sau khi phát hiện SIM bị vô hiệu hóa, nên liên hệ ngay với tổng đài của nhà mạng để yêu cầu khóa thẻ sim nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro.

Trong bối cảnh các thủ đoạn lừa đảo nhắm tới người tiêu dùng ngày càng trở nên tinh vi, bên cạnh việc tuyên truyền những lưu ý cũng như khuyến cáo tới người tiêu dùng, các cơ quan chức năng cũng cần nâng cao nghiệp vụ của mình đẻ có thể tiến hành truy vết và triệt phá các đường dây lừa đây lừa đảo có tình chất công nghệ cao.

logo

Link & Partners

Là đơn vị tư vấn luật hàng đầu tại Việt Nam.

 Phòng 2403 tòa A3, chung cư Ecolife Capitol, số 58 Tố Hữu, Quận Nam Từ Liêm, Thàn phố Hà Nội, Việt Nam
0243.997.2222 - 0949.592.295
linh.lplaw@gmail.com

Fanpage

Hotline: 0243-997-2222

Scroll to Top